Tin mới đăng

Liên kết

Thành viên

DI TÍCH TRƯỜNG LŨY QUẢNG NGÃI

Thứ sáu - 07/12/2012 17:39
DI TÍCH TRƯỜNG LŨY QUẢNG NGÃI

DI TÍCH TRƯỜNG LŨY QUẢNG NGÃI

Kiến trúc Loại di tích: Di tích lịch sử Đã xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia theo quyết định 800/QĐ-BVHTT-DL ngày 9 tháng 3 năm 2011 Địa chỉ di tích: Nghĩa Lâm- Tư Nghĩa- Quảng Ngãi.
 
Trường Lũy Quảng Ngãi (gọi tắt là Trường Lũy), hay Trường Lũy Quảng Ngãi- Bình Định, Tĩnh Man trường lũy (gọi theo sử Nguyễn); đều là tên gọi của một công trình kiến trúc lớn, đa dạng, nhiều phần được làm bằng đá hoặc đất, chạy dọc theo đường thượng đạo xưa từ Quảng Ngãi đến Bình Định, bắt đầu từ huyện Trà Bồng (Quảng Ngãi) đến huyện An Lão (Bình Định) thuộc Việt Nam. Theo nhiều nhà nghiên cứu, thì đây là một trường lũy dài nhất Đông Nam Á.
           Theo sử liệu, vào khoảng giữa thế kỷ XVI, một vài đồn (bảo) ở miền Tây Quảng Ngãi được Bùi Tá Hán (1496-1568), cho xây dựng để nhằm kiểm soát giao thương và bình định vùng miền núi phía Tây của tỉnh Quảng Ngãi. Đến năm 1750, khi được cử làm Tuần vũ Quảng Ngãi, Nguyễn Cư Trinh cũng tiếp tục cho xây dựng một số đồn (bảo) khác trên vùng đất này.
            Tuy nhiên, để có một Trường Lũy dài hàng trăm km, nối kết hàng trăm đồn (bảo) lại với nhau, hình thành một hệ thống đồn – lũy liên hoàn, chạy từ huyện Hà Đông tỉnh Quảng Nam đến phía bắc phủ Bồng Sơn tỉnh Bình Định, phải nhờ đến công sức của hàng ngàn binh lính và nhân dân các dân tộc trong tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, đặc biệt là nhân dân các dân tộc Kinh, Hrê ở Quảng Ngãi cùng nhau xây dựng vào năm 1819 dưới sự chỉ huy của Tá quan Lê Văn Duyệt (1764-1832). Theo các bộ chính sử của triều Nguyễn, như Đại Nam thực lục, Quốc triều chính biên toát yếu, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí….thì Trường Lũy dài 117 dặm, 115 bảo, mỗi bảo có khoảng 10 lính canh gác, nhằm kiểm soát việc qua lại và giao thương giữa hai vùng.  
           Hiện nay, sau khi đi khảo sát và nghiên cứu toàn bộ tuyến lũy trong nhiều năm, các nhà nghiên cứu đã xác định được 127,4km Trường Lũy. Trong đó, trên đất Quảng Ngãi có 113km, băng qua 08 huyện: Trà Bồng, Sơn Tịnh, Sơn Hà, Tư Nghĩa, Minh Long, Nghĩa Hành, Ba Tơ, Đức Phổ và còn lại khoảng hơn 70 đồn (bảo) còn tương đối nguyên vẹn; tiêu biểu như: di tích Thiên Xuân, di tích Khánh Giang (xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành); di tích Rùm Đồn (Rừng Đồn) và di tích Đèo Chim Hút (xã Hành Dũng, huyện Nghĩa Hành)….Một số đoạn lũy tiêu biểu, như các đoạn lũy ở xã Trà Sơn, Trà Xuân, Trà Bình (huyện Trà Bồng), Nghĩa Thắng, Nghĩa Thọ (huyện Tư Nghĩa), xã Hành Dũng (huyện Nghĩa Hành), xã Ba Động (huyện Ba Tơ)….
   Lịch sử:
   Theo các nhà nghiên cứu gần đây, trong đó có GS. Phan Huy Lê, thì lũy cổ khởi xây từ thế kỷ 17 thời các chúa Nguyễn với tính cách phòng thủ quân sự. Sang thế kỷ sau, vì nhiều nguyên nhân, một số dân tộc ở Đá Vách (Quảng Ngãi, phần đông là tộc người H’rê) đã nổi lên chống đối triều đình. Đến triều Gia Long thì cuộc xung đột càng quyết liệt hơn. Sách Quốc triều sử toát yếu (phần Chính biên) chép:
   Tháng 4 năm Quý Hợi (1803), Lê Văn Duyệt phá tan mọi Đá Vách. Ngài (Gia Long) hạ chiếu khen thưởng.
   Mặc dù phải dùng biện pháp quân sự, triều đình vẫn không sao tiêu diệt được. Suốt các triều đại kế tiếp từ Minh Mệnh đến Tự Đức quan quân phải hao binh tướng đánh dẹp. Mãi cho đến khi thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, vùng Đá Vách vẫn có nhiều biến loạn.[4] Triều đình phải dùng cả thế công lẫn thế thủ nên một mặt phái quân lên tiễu trừ, mặt kia thì củng cố và khuếch trương thành dãy luỹ cũ.
   Thư tịch chính sử
            Theo sử nhà Nguyễn thì để ngăn nguy cơ "bị uy hiếp, tràn lấn của ác man Đá Vách", kể từ năm Gia Long thứ 18 (1819), Tả quân Lê Văn Duyệt đã cho đắp "lũy Bình Man." Sách Vũ Man tạp lục thư (in năm 1898 triều Thành Thái) của Tĩnh Man Tiểu phủ sứ Nguyễn Tấn chép rõ:
           Năm Gia Long thứ 18 (1819), Lê Văn Duyệt tâu xin xây Trường lũy, nam giáp ranh giới huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định; bắc giáp ranh giới huyện Hà Đông (thuộc phủ Tam Kỳ), tỉnh Quảng Nam. Dọc theo lũy có đào hào trồng tre, trước lũy là vùng Man, sau lũy có xây đồn...

           Sách Viêm Giao trưng cổ ký (Ghi chép sưu tập di tích cổ nước Nam) của Tổng tài Quốc sử quán Cao Xuân Dục, hoàn thành năm 1900, cũng chép tương tự:

           Năm thứ 18 (1819), Chưởng Tả quân Lê Văn Duyệt đắp Trường lũy, trồng hàng rào, đào hào chắn[6]... Trải lâu năm lũy bị đổ nát, nhiều toán quân Man vượt quan lũy đến cướp bóc các làng dưới xuôi. Năm Tự Đức thứ 8 (1855), trùng tu Trường lũy.

           Căn cứ theo đó thì Trường Lũy có từ xưa nhưng được xây dựng thêm vào triều Gia Long - Minh Mạng. Hai vị có công nhiều nhất trong việc kiến thiết và trùng tu là Lê Văn Duyệt và Nguyễn Tấn; cả hai đều xuất thân ở Quảng Ngãi. Việc xây cất kéo dài đến nửa cuối thế kỷ 19 như ghi lại trong Đại Nam thực lục:

           Tháng 4 năm Bính Thìn (1856), “dân hơn 60 xã, thôn, trại, ấp ở ba huyện Bình Sơn, Chương Nghĩa (nay là Tư Nghĩa), Mộ Đức ủy người về kinh (Huế) kêu xin, vì tình hình khổ quá, (mà) phải đi đắp đê dài... công việc quá nặng, khó gánh chịu nổi”. Tháng 3 năm sau (1857), bố chính Quảng Ngãi là Phạm Tỉnh lại tâu xin đắp “Trường lũy” một cách quy mô, tập trung ngót 2500 binh lính và huy động dân đinh ba huyện 3700 người. Tự Đức đồng ý, lại còn ra lệnh khẩn trương sửa đắp xong trong trong ba tháng.[
    - Khảo cổ
Cuộc khai quật di tích đã tìm thấy các mảnh gốm địa phương, gốm Bát Tràng, và cả gốm ngoại quốc với niên đại từ thế kỷ 17, chứng minh lũy không chỉ có từ triều Gia Long.[9] Tuy nhiên việc củng cổ và xây đắp lại cho thêm cẩn mật diễn ra từ triều Gia Long về sau.
    - Kích thước, địa thế, cấu tạo
Trường Lũy là một công trình kiến trúc hùng vĩ còn tương đối nguyên vẹn, chạy dài gần hết chân dãy Trường Sơn đông thuộc địa phận Quảng Ngãi. Ở một số nơi, lũy vắt lên cả sườn đồi. Chỗ bằng phẳng lũy chủ yếu được xây bằng đất, các chỗ dốc thì được gia cố thêm bằng đá, nhưng hầu hết là lũy, bảo xây hoàn toàn bằng đá. Độ cao trung bình của lũy là 2m, đáy trung bình 4m, bề mặt trung bình 1m. Các đồn (bảo) phần lớn hình chữ nhật có chiều dài mỗi cạnh phổ biến 25 đến 30 mét độ cao trung bình tường đồn 4m, đáy 5m, bề mặt trung bình 1m. Ở những vị trí quan trọng về quân sự và kinh tế có những đồn lớn có diện tích hàng chục hecta như Thiên Xuân, Kim Thành (huyện Nghĩa Hành). Dọc theo lũy còn có các con đường cổ, hào và có các chợ phiên nằm lân cận. Vì vậy, theo các nhà khoa học, Trường Lũy – đồn (bảo) không chỉ có chức năng bảo vệ mà còn có chức năng giao thương kinh tế, trao đổi văn hóa giữa miền xuôi và miền ngược.
          Trường Lũy Quảng Ngãi, các tài liệu ghi không thống nhất. Theo Đại Nam thực lục thì lũy có chiều dài là 117 dặm,[10] còn sách Viêm Giao trưng cổ ký thì ghi là 177 dặm[11] Sở dĩ có sự khác biệt này, có lẽ là do chiều dài của Trường Lũy tùy ở thời điểm khi được ghi chép. Song, trong các công bố gần đây, độ dài của công trình vẫn còn nhiều người khác biệt
          Sau nhiều năm nghiên cứu (2005-2010), tại Hội nghị thông báo khảo cổ học năm 2010 tại Hà Nội, đoàn khảo sát thuộc Trường Viễn Đông Bác cổ của Pháp, Viện Khảo cổ học (Hà Nội), đã cho biết độ dài của lũy từ Ba Tơ vào đến Bình Định là 300 km, riêng đoạn thành chạy trên đất Bình Định là 30 km.[12]
           Theo bài viết "Sức hút kỳ lạ từ Trường Lũy" trên báo Pháp luật (bản điện tử) thì Trường Lũy chỉ dài 133 km.[13]
           Theo TS. Nguyễn Tiến Đông (Viện Khảo cổ học Việt Nam), thì Trường lũy có chiều dài xấp xỉ 200 km.[14]

Về mặt địa thế, lũy nằm theo con đường thượng đạo Bắc Nam, nơi từng là lộ trình cho các cuộc hành quân lịch sử thời xưa. Như vào năm 1786, khi quân Tây Sơn kéo từ Thị Nại ra đánh lấy Phú Xuân, họ đã dùng con đường thượng đạo này để di chuyển mà không bị cản trở như ở hạ nguồn vì nơ
   - Vai trò của Trường Lũy đối với nhà Nguyễn
Trường lũy xưa, triều Nguyễn xây dựng mang tính chất phòng vệ, song hiệu quả không cao, vì “quân Đá Vách dùng lối đánh du kích ẩn hiện khó lường, mà quân triều từ nơi khác đến đóng giữ lâu ngày không quen thủy thổ”, và vì họ đều có “tài nghệ chiến đấu”.[18] Tướng Nguyễn Tấn trong Vũ Man tạp lục thư kể:

          Người Man ở tỉnh tôi, tính tình hung hãn, đi đứng chạy nhảy lanh lẹ, đến như luồng điện sáng, đi tựa ánh chớp. Dựa vào nơi hiểm yếu, bắn tên phóng lao, đó là môn sở trường của họ vậy... Trước đây quan binh đã từng bị chúng đánh thua, và chẳng phải là một lần mà thôi. [19]

Rút lại, theo GS. Nguyễn Phan Quang trong Việt Nam thế kỷ XIX, thì:

Trải qua các triều vua từ Gia Long đến Tự Đức, “lũy bình Man” liên tiếp được củng cố, đồn bảo trên lũy liên tiếp được sửa đắp, tăng cường, nhưng triều Nguyễn vẫn không sao đè bẹp được cuộc đấu tranh của các dân tộc Đá Vách. Ngay tác giả Vũ Man tạp lục thư cũng đã thú nhật sự bất lực của Trường lũy: "... Kế sách phòng bị quá chu đáo, chặt chẽ, không gì lọt qua được, tuy nhiên không có gì tốt hơn là giữ được (lòng) người vậy."[2i đó có những cửa sông lớn chắn lối . Hai vị cãy lũy cũ.
    - Nhận định của thế giới
Ngày 27 tháng 3 năm 2011, đoàn đại sứ các nước Châu Âu gồm: Pháp, Ba Lan, Hungary, Anh, Hy Lạp, Romania và Trưởng phái đoàn Liên Âu tại Việt Nam Sean Doyle đã cùng các nhà khoa học nước ngoài và nhà chức trách tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức hội thảo “Lịch sử quan hệ kinh tế và dân tộc” về di tích quốc gia Trường Lũy Quảng  Ngãi.

           Tại hội thảo, tham luận của các nhà khoa học đều thống nhất rằng:

           - Trường Lũy không những chỉ có nhiệm vụ bảo vệ an ninh và quản lý nội địa; mà còn tạo điều kiện cho giao thương, mua bán giữa đồng bào miền ngược và miền xuôi, giữa miền núi và miền biển.
          - Công trình không chỉ có ý nghĩa lớn về giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội, là đường ranh giới đảm bảo về sự ổn định và hòa bình, là nơi giao thương mà còn có giá trị lớn về mặt quân sự, là cơ sở để quản lý, tạo mối quan hệ hòa hợp, gắn kết giữa cộng đồng các dân tộc.

           Hiện nay, tỉnh Quảng Ngãi đã thống nhất giữ nguyên hiện trạng Trường Lũy trên cơ sở lấy Trường Lũy làm tâm, dọc theo hai bên lũy 500m là khu vực di tích.[21]

           Theo kỳ vọng của ngành chức năng, với di tích Trường Lũy, không chỉ là việc nghiên cứu mà còn tạo ra cơ hội về du lịch. Những cư dân sống dọc Trường Lũy sẽ có cơ hội về công ăn việc làm.[22]

         Ngày 10 tháng 3 năm 2011, Trường Lũy Quảng Ngãi đã chính thức được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích cấp Quốc gia
          - Trường Lũy là một di tích kiến trúc, bao gồm các yếu tố: Thành lũy - đồn (bảo) - đường cổ, có giá trị văn hóa đặc biệt, là công trình kiến trúc dài nhất Đông Nam Á, đa dạng về chất liệu, có cấu trúc độc đáo, là biểu tượng cho công sức lao động và sáng tạo của nhân dân trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, là một tài nguyên du lịch hấp dẫn.
           - Với giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học và tiềm năng phát triển du lịch của di tích Trường Lũy Quảng Ngãi, ngày 09/3/2011 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch  đã công nhận xếp hạng di tích Quốc gia: Di tích Trường Lũy Quảng Ngãi.
           - Hiện nay các nhà khoa học trong và ngoài nước đang tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ thêm giá trị văn hóa, lịch sử của di tích Trường Lũy; các cơ quan chức năng đang tiến hành lập dự án bảo tồn và phát huy giá trị di tích, đặc biệt trong việc phát triển du lịch.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

ĐÔI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ

  Chân dung cụ Nguyễn Công Trứ PHẦN 1: 1. Nguyễn Công Trứ tên tục là Củng, tự là Tồn Chất, hiệu là Ngộ Trai, biệt hiệu là Hy Văn, sinh ngày 01 tháng 11 năm Mậu Tuất, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 39, tức ngày 19 tháng 12 năm 1778; người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Cha là Nguyễn...

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 9


Hôm nayHôm nay : 219

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 15717

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 846980

Hỗ trợ Online

Quản trị

Name: QuanTri
Ban giám hiệu

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá về chất lượng của trường

Rất tốt

Tốt

Được

Chưa được

Ảnh mới

Bản quyền thuộc về Trường THPT Nguyễn Công Trứ
Huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi
Website chạy tốt nhất trên trình duyệt Firefox hoặc Chrome
Xem bản: Desktop | Mobile